LY HÔN XONG MUỐN CHIA TÀI SẢN CHUNG VỢ CHỒNG SAU LY HÔN PHẢI LÀM GÌ| LUẬT SƯ LY HÔN TẠI CẦU GIẤY

Hiện nay, nhiều trường hợp khi giải quyết ly hôn tại Tòa án thì hai vợ chồng tại thời điểm đó chưa giải quyết vấn đề về tài sản cũng như các nghĩa vụ khác trong thời kỳ hôn nhân vẫn đang tồn tại. Lý do có thể do nhiều nguyên nhân, có thể do tại thời điểm ly hôn các bên chỉ cần giải quyết vấn đề về tình cảm, về vấn đề thời gian, hoặc do tại thời điểm ly hôn hai vợ chồng chưa thỏa thuận, thống nhất được phương án chia tài sản, ….Nhưng vì bất kì lý do gì nếu tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân chưa được chia thì tài sản đó vẫn là tài sản chung của vợ chồng, nếu sau ly hôn hai bên thống nhất thỏa thuận được để phân chia thì thủ tục khá đơn giản, nhưng nếu sau ly hôn hai bên không thống nhất được và muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì một trong hai bên có quyền khởi kiện ra tòa án yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn.

Căn cứ để Tòa án xem xét giải quyết chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn gồm:

  • Căn cứ xác định tài sản chung đó là tài sản phát sinh trong thời kỳ hôn nhân
  • Căn cứ giấy tờ pháp lý có liên quan xác định chủ sở hữu tài sản
  • Căn cứ xác định công sức đóng góp, tạo lập khối tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân
  • Tình trạng hiện tại của tài sản, người đang quản lý, sử dụng tài sản chung sau ly hôn và các giấy tờ, căn cứ khác có liên quan.

Cách phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn hoặc sau ly hôn khi có yêu cầu như thế nào? Vấn đề này đã được pháp luật có liên quan có quy định, Luật Hải An là văn phòng luật sư chuyên giải quyết và tư vấn các vụ án tranh chấp tài sản chung của vợ chồng sau ly hôn.

Nguyên tắc phân chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và được hướng dẫn Điều 7 Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP có hiệu lực kể từ ngày 01/3/2016 như sau:

2. Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét, giải quyết đồng thời với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

3. Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

4. Trường hợp áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn thì tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây để xác định tỷ lệ tài sản mà vợ chồng được chia:

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung” là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập” là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

Ví dụ: Vợ chồng có tài sản chung là một chiếc ô tô người chồng đang chạy xe taxi trị giá 400 triệu đồng và một cửa hàng tạp hóa người vợ đang kinh doanh trị giá 200 triệu đồng. Khi giải quyết ly hôn và chia tài sản chung, Tòa án phải xem xét giao cửa hàng tạp hóa cho người vợ, giao xe ô tô cho người chồng để họ tiếp tục kinh doanh, tạo thu nhập. Người chồng nhận được phần giá trị tài sản lớn hơn phải thanh toán cho người vợ phần giá trị là 100 triệu đồng.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng” là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

5. Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

6. Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn, Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.”

Trên đây là một số ý kiến liên quan đến quy định pháp luật về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn hoặc chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn. Còn nhiều vấn đề pháp lý có liên quan khác trong vụ án thực tế mà luật sư cần có sự đánh giá trực tiếp, vì vậy để bảo đảm quyền lợi hợp pháp của mình, bạn nên liên hệ trực tiếp với Luật Hải An để được tư vấn cụ thể và chính xác.

—————————————————
CÔNG TY LUẬT TNHH HẢI AN:
🔔Hotline: 090 229 3579 – 0915 220 884
📌Địa chỉ văn phòng: Tầng 3, số 69 phố Nguyễn Thị Định, phường Trung Hòa, quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội.
—————————————————