Chuyên mục: Dân sự – Thừa kế
Cập nhật: 08/10/2026
Trên thực tế giải quyết tranh chấp nhiều vụ án về di chúc/thừa kế, Luật Hải An gặp một số vụ việc có liên quan đến tranh chấp về di chúc, cụ thể là một người được di chúc toàn bộ tài sản nhưng vì sao vẫn không được nhận hết?
>> Di Chúc không công chứng có giá trị pháp lý không?
Lý do là trước khi chia di sản phải xác định: tài sản nào thực sự thuộc người chết, có nghĩa vụ tài sản phải thanh toán hay không, có người thừa kế được pháp luật bảo vệ dù không được ghi trong di chúc (người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc) hay không và toàn bộ nội dung di chúc còn hiệu lực hay không.
1. “Toàn bộ tài sản” chỉ là toàn bộ tài sản thực sự thuộc người lập di chúc
Theo Bộ luật Dân sự, di sản bao gồm tài sản riêng của người chết và phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.
Ví dụ: Căn nhà trị giá 6 tỷ đồng được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân và là tài sản chung vợ chồng. Người chồng lập di chúc “Để lại toàn bộ căn nhà cho con trai.”
Nếu xác định mỗi vợ chồng có quyền đối với 1/2 giá trị căn nhà thì phần của người chồng về nguyên tắc chỉ là 3 tỷ đồng. Người chồng không thể dùng di chúc để định đoạt cả 3 tỷ đồng thuộc quyền của người vợ.
Trong tranh chấp thừa kế nhà đất, sai lầm thường gặp là nhìn vào tên trên giấy chứng nhận (trên giấy chứng nhận chỉ thể hiện tên của một người vợ hoặc chồng) rồi cho rằng toàn bộ bất động sản đều là di sản. Do đó, để có căn cứ xác định tài sản là di sản của người để lại di sản phải xác định cụ thể về nguồn gốc để có căn cứ chính xác về phần di sản này.
2. Phải thực hiện nghĩa vụ tài sản trước khi chia di sản
Không phải người được nhận di sản là được nhận toàn bộ di sản đó, mà phải tính đến cả phần nghĩa vụ của người mất để lại nếu có như khoản vay chưa thanh toán, nghĩa vụ về thuế, nghĩa vụ tài sản theo bản án hoặc các nghĩa vụ hợp pháp khác.
Người được nhận di sản phải có nghĩa vụ thay người để lại di sản thanh toán các nghĩa vụ, sau đó phần còn lại người được nhận di sản sẽ được hưởng.
3. Có những người vẫn được hưởng dù di chúc không cho họ tài sản
Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc bao gồm:
- cha, mẹ của người chết;
- vợ hoặc chồng;
- con chưa thành niên;
- con thành niên không có khả năng lao động.
Mức được bảo vệ về nguyên tắc bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu toàn bộ di sản được chia theo pháp luật.
Ví dụ dễ hiểu như sau:
Ông A có di sản riêng trị giá 3 tỷ đồng.
Ông A có:
- vợ;
- hai người con đã thành niên và có khả năng lao động.
Cha mẹ ông A đã mất. Nếu chia theo pháp luật thì ba người thuộc hàng thừa kế thứ nhất, mỗi người được: 3 tỷ : 3 = 1 tỷ đồng.
Tuy nhiên ông A lập di chúc để lại toàn bộ 3 tỷ đồng cho người con thứ nhất.
Người vợ dù không được ghi trong di chúc vẫn thuộc diện được pháp luật bảo vệ.
Phần tối thiểu của người vợ:2/3 × 1 tỷ = khoảng 666,7 triệu đồng.
Như vậy, người con được chỉ định hưởng toàn bộ tài sản không thể thực tế nhận đủ 3 tỷ đồng.
Người con còn lại đã thành niên, có khả năng lao động thì về nguyên tắc không thuộc nhóm được hưởng bắt buộc theo Điều 644 chỉ vì là con của người chết.
Pháp luật vẫn tôn trọng ý chí của người lập di chúc, nhưng đồng thời dành một mức bảo vệ tối thiểu cho một số người có quan hệ đặc biệt với người để lại di sản.
4. Một phần di chúc có thể không còn hiệu lực
Ngay cả khi di chúc được lập hợp pháp, đến thời điểm người lập di chúc chết, không phải mọi nội dung đều chắc chắn còn thực hiện được.
Ví dụ:
- tài sản được ghi trong di chúc đã được bán trước khi người lập di chúc chết;
- tài sản không còn tồn tại;
- người được chỉ định hưởng di sản chết trước người lập di chúc;
- có phần nội dung di chúc không hợp pháp;
- sau đó người lập di chúc đã lập bản di chúc mới đối với cùng tài sản.
Trong các trường hợp này, Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 cho phép xác định toàn bộ hoặc một phần di chúc không có hiệu lực tùy từng tình huống.
Đây cũng là lý do một bản di chúc tưởng như rất rõ ràng vẫn có thể phát sinh tranh chấp sau khi người lập di chúc qua đời.
Vì vậy, để có hướng giải quyết cụ thể và rõ ràng nhất, bạn có thể liên hệ với luật sư để được đánh giá cụ thể và được tư vấn tránh những tranh chấp không đáng có.


